22 tháng 2, 2011

CHUYỆN KHÓ TIN NHƯNG CÓ THỰC: CHUYỆN KỂ TỪ TRẠI GIAM (Phần cuối)

Chẳng thèm nói một câu bào chữa, chẳng mảy may xúc động hay sợ hãi, tôi mặc nhiên cho chuyện gì tới ắt sẽ tới. Nhưng ít lâu sau đó, phiên phúc thẩm, không hiểu sao các bà xơ nơi cô nhi viện tôi ở ngày trước lại đến dự khá đông. Phiên xử phúc thẩm tôi còn được một luật sư từ ngoài vào bào chữa cho tôi mà không phải là do toà chỉ định như ở phiên sơ thẩm.

Trong phiên xử phúc thẩm này, cô gái cháu của ông già gác chuông cũng có mặt. Tôi không dám nhìn vào gương mặt ngây thơ thánh thiện của cô gái đó. Tôi cũng không một lần ngước nhìn ông già, kẻ đã cứu tôi lúc tôi hoạn nạn nhưng lại bị tôi trả ơn bằng tội ác. Không ngờ trong phiên xử phúc thẩm, các bà xơ nơi cô nhi viện tôi ở, và cả ông luật sư từ trên trời rơi xuống đã bảo vệ tôi trước toà, đã nói về hoàn cảnh cô đơn bất hạnh bị cha mẹ bỏ rơi của tôi.

Cũng chính trong phiên toà này, tôi mới biết tôi là đứa trẻ sơ sinh chưa rụng cuống rốn được vứt ở nghĩa trang do một người đi cải táng mộ nhặt được và đem đến cô nhi viện. Ông luật sư đã có một bài thuyết trình rơi nước mắt người đến xem xử án và kết quả là toà giảm cho tôi từ tội tử hình xuống tội chung thân để cho tôi một ân huệ là được sống tiếp để mà hối cải những tội lỗi tôi đã gây ra.

Tôi bị giam giữ ở một trại giam khá nổi tiếng thời bấy giờ ở quận TĐ. Vào đây, tôi mới biết, tất cả những giang hồ cộm cán số má của chế độ cũ lẫn mới, những phạm nhân mang tội trọng án, đặc biệt nguy hiểm đều được đưa về trại giam này để cải tạo. Nói chung sống trong vòng kiềm toả của pháp luật, giữa một rừng tội phạm, sự sinh tồn của mỗi phạm nhân càng được thiết lập chặt chẽ và nghiệt ngã hơn.

Tôi nhanh chóng được liệt vào hạng phạm nhân không số má. Bất hảo, lỳ lợm, sẵn sàng ẩu đã, và cái quan trọng là không biết sợ, không coi cái mạng mình là cái đinh gỉ gì cả nên các phạm nhân thành phần bất tử khác cũng đành chào thua. Bởi xét cho cùng, tất cả những kẻ khét tiếng độc ác nhất, gót chân Asin của chúng, đó là mạng sống. Làm gì, hành động gì thì quý nhất vẫn là phải bảo toàn mạng sống.

Còn tôi, vào trại, thích đánh nhau, gây lộn ẩu đả là đánh. Đánh cho hộc máu mồm, máu mũi, đánh chết thì thôi, bởi vậy sự liều lĩnh, gan góc của tôi được liệt vào không số má. Ngay lập tức xung quanh tôi có một bức tường vô hình ngăn cách giữa tôi với các phạm nhân khác. Kẻ yếu thì tránh xa tôi. Kẻ mạnh thì không dại gì gần tôi. Tôi sống khá an toàn và cô độc giữa thế giới của những kẻ rác rưởi và tận cùng của xã hội.

Tôi nhập trại được 5 năm. Năm năm tôi là phạm nhân chưa bao giờ có bất kỳ ai thăm nuôi. Trong năm năm ấy, tôi đã tìm cách trốn tù tới 20 lần. Cả 20 lần đều thất bại. Không có tháng nào mà tôi không nghĩ cách trốn tù một lần. Ăn ngủ, làm việc ở trại cải tạo, trong đầu tôi chỉ chăm chắm có một ý nghĩ duy nhất là làm sao để thoát khỏi trại cải tạo mà tung hoành ở thế giới bên ngoài. Trốn tù, ra thế giới tự do sống dăm bữa nửa tháng cho thoả rồi chết cũng còn sướng hơn là giam cả đời ở nơi này. Nghĩ vậy và luôn hành động như vậy, tôi nổi tiếng là kẻ với khát vọng đào tẩu thường trực và lớn nhất ở trại giam TĐ.

Nhưng số phận lại tiếp tục mang đến cho tôi, một kẻ không xứng đáng với bất kỳ sự ân huệ nào của tạo hoá một món quà bất ngờ. Mãi đến sau này, tôi vẫn không sao lý giải được. Có thể, chúa trời xót thương sinh linh quái dị là tôi mà người đã tạo ra nên đã sai một thiên thần đến giúp đỡ tôi hoàn thiện phần người trong chính bản thân mình.

Sau 5 năm với thành tích trốn tù bất bảo, những năm tháng tù giam của tôi tiếp tục cộng dày lên đến nỗi tôi nghĩ mình có sống đến đầu bạc răng long cũng không thể mãn hạn tù để có thể chạm đến ngày về. Giữa lúc cuộc sống trong trại cải tạo mịt mù đen tối như vậy một sự kiện bất ngờ đã góp phần thay đổi 180 độ cuộc sống và suy nghĩ của tôi.

Đó là sự kiện tôi bất ngờ có một người khách đến thăm nuôi vào dịp lễ Giáng sinh và đón mừng năm mới. Mãi đến sau này, tôi nghĩ Chúa đã nghĩ lại, người để mắt đến đứa con ghẻ của người và người đã sai các con chiên của người đến an ủi tôi, và khâu lành cho tôi những vết thương trống hoác trong cuộc đời đầy ắp thương tích của tôi.

Giáng sinh năm đó tôi không thể nào quên. Trước Giáng sinh chỉ một ngày thôi, tôi có một người khách đến tìm. Ngay cả khi quản giáo thông báo tôi có khách thăm nuôi, có người đến tìm đang chờ ở phòng tiếp đón, tôi dửng dưng không tin, cứ nghĩ là có sự nhầm lẫn nào đó. Nhưng điều tôi không bao giờ mơ tưởng tới, cuối cùng lại xảy đến với tôi, như một phép nhiệm mầu hiếm hoi.


Tôi xuống phòng tiếp đón với một tâm trạng tò mò tột đỉnh. Ai có thể thăm tôi, ai có thể vào nơi thâm sơn cùng cốc của một trại giam heo hút để tìm tôi? Có chăng là những kẻ từng nạn nhân của tôi, giờ vì mối hận thù thâm sâu mà đến tìm tôi để thoả thuê cười khẩy vào hoàn cảnh đáng đời của tôi chăng?.Những ý nghĩ hoài nghi chạy qua cái đầu trơn bóng lỳ lợm của tôi.

Cho đến khi, chân tôi chợt khựng lại, mồ hôi vã ra trước khuôn mặt thiên thần của cô gái, một gương mặt mà tôi thoáng gặp ở đâu đó trên những bức tranh vẽ về các thiên thần, về Đức mẹ đồng trinh của cô gái đang ngồi đợi tôi ở phòng tiếp đón. Tôi như một kẻ tâm thần bất ổn, ngớ ngẩn, đần độn ngồi xuống ghế đối diện và cúi gằm mặt xuống vì không dám nhìn vào thiên thần vừa giáng trần xuống trước mặt tôi.
Tôi nín thở và chợt nhận ra rằng, trong cuộc đời chó má của tôi, tôi chưa từng để ý một người con gái nào, chưa từng có cô gái nào nhìn tôi, chứ chưa nói là có mối liên hệ nào tới một cô gái để cô ta có thể tới thăm tôi. Và vì thế mà tôi bàng hoàng, run rẩy, và trở nên tê liệt hết mọi cảm giác của một kẻ bị bẻ gẫy hết tất cả các loại vũ khí tự vệ.

Và tôi nhớ như in, đó là lần đầu tiên, tôi biết nói tiếng người. Lần đầu tiên, phần người trong tôi được đánh thức. Lần đầu tiên tôi biết thế nào là niềm tin, là hy vọng, là thiện tâm…để sống một cuộc sống đúng nghĩa. Cô gái đấy chính là cô cháu gái của ông lão gác chuông mà suýt bị tôi giết sau khi đã cưu mang tôi mấy ngày trời bị ốm.

Tôi không thể nhận ra cô gái ấy, bởi trong ký ức của tôi không lưu giữ bóng người cho tới ngày định mệnh hôm ấy khi cô gái đến thăm tôi. Cô gái nói với tôi. Cô đến thăm nuôi tôi là vì lời trăng trối của ông già gác chuông. Trước khi mất, ông đã nói với cô cháu gái của mình rằng: "Nếu con có thời gian, con hãy dành một lần đi thăm người tù nhân năm xưa mà ông cháu mình đã từng cưu mang hắn và suýt bị hắn giết. Nếu có thể, con hãy thức tỉnh lương tri của hắn, và chỉ cho hắn một lối về trên nẻo thiện".

Cô gái rất yêu ông mình, cô chỉ có ông là người thân duy nhất trên cuộc đời này. Những gì tâm nguyện của ông, cô đều thực hiện. Giờ ông mất rồi, cô gái thay ông già kéo chuông và giúp việc lặt vặt trong nhà thờ. Mất ông, mất một chỗ dựa tinh thần lớn, cô gái đã rất buồn và chống chếnh. Nhớ lời ông dặn, cô đã đi thăm nuôi người tù nhân cô độc mang án chung thân vì tội giết người. Cô đi thăm chính cái người đã suýt giết ông cháu cô để trả ơn giúp đỡ. Cuộc đời vẫn luôn tréo ngoe như vậy.

Cuộc gặp gỡ có một không hai giữa cô gái mang một tâm hồn trong trẻo, thánh thiện, chưa từng nhuốm chút bụi đời với một kẻ tù nhân chưa từng biết tới lương thiện. Ngỡ như với hai thái cực, cô gái với trái tim nhân hậu và tâm hồn trong như gương soi, khó có thể tìm được một chỗ để neo mình, dù là giây lát bên một tâm hồn đồi bại, một trái tim trơ đá của kẻ tội phạm.

Vậy mà cuộc gặp đã thay đổi tất cả, giống như phép mầu của chúa ban xuống cho hai sinh linh cô độc trên cõi đời này. Cuộc gặp ấy, tôi đã kể cho cô gái nghe về cuộc đời của tôi, vì sao tôi trở thành tôi bây giờ. Và cô gái chính là người thân đầu tiên tìm tôi sau chuỗi năm tháng tôi trơ trọi một mình trên cõi đời này. Nghe chuyện của tôi, cô gái đã khóc.

Cô chỉ nói với tôi được thế này thôi, mà với tôi đó là một mệnh lệnh tôi bằng mọi giá phải thực hiện được: "Anh ráng cải tạo tốt để sống tốt khỏi phụ lòng ông của em. Trước khi mất, ông dặn em tới thăm anh một lần kẻo tội anh. Ông bảo, nếu em có thăm anh thì ráng bảo anh cải tạo cho tốt để quay trở về làm người lương thiện, sống cuộc đời lương thiện".

Tôi không biết hai chữ "lương thiện" nghĩa là gì nhưng chắc chắn đó phải là những phần tốt đẹp nhất thuộc về người con gái đã đến thăm tôi. Tôi chắc chắn, lương thiện nghĩa là tốt đẹp, là cuộc đời mà người con gái mang gương mặt thiên thần kia đang sở hữu. Và tôi sống những ngày tiếp theo với một hy vọng, một ngày nào đó tôi sẽ chạm tới phần lương thiện mà tôi sẽ có.

Kể từ đấy, đều đặn, mỗi năm một lần cứ vào dịp đêm trước Giáng sinh, tôi có một cuộc gặp gỡ hạnh phúc duy nhất có một không hai trong cuộc đời tù tội của mình với cô gái mang gương mặt Đức mẹ đồng trinh. Mỗi năm một lần, tôi sống trong phục thiện, trong hy vọng, trong chờ đợi mòn mỏi để tới được đêm trước Giáng sinh, để được gặp cô gái được chạm vào phần lương thiện của chính tôi, của cuộc đời mà tôi ngỡ đã bị đánh rơi đâu đó trong quá vãng.

Trong suốt một năm chờ đợi gặp mặt cô gái, trong mỗi tháng 1 lần tôi đã nhận được những bức thư cô gái viết cho tôi. Những bức thư động viên tôi, khuyên bảo tôi, dạy tôi biết sống một cuộc sống của con người. Oái oăm thay, tôi không biết đọc, không biết viết, không thể tự mình đọc được những bức thư như một món quà ân huệ lớn của tạo hoá ban cho riêng mình. Tôi đã phải nhờ một người bạn tù lớn tuổi đọc cho tôi nghe, giúp tôi hiểu từng câu từng chữ.

Người bạn tù lớn tuổi ấy là một ông giáo già, vì ghen tuông mà giết chết người vợ đa tình của mình. Chính người bạn tù này đã dạy tôi từng chữ cái đầu tiên, giúp tôi biết đọc và biết viết. Cuộc đời kể cũng lạ lùng, khi tôi mất tự do, khi tôi không còn quyền tối thiểu của con người nữa, tôi mới bắt đầu hiểu được thế nào là hai chữ cuộc đời.

Chính trong môi trường cải tạo giam, giữ, tôi đã bắt đầu biết phục thiện. Tôi cảm ơn quãng thời gian ở trại cải tạo, chính nơi đây, tôi mới dược dạy dỗ để làm một con người bình thường, để mơ ước sống một cuộc đời lương thiện.

Nhưng các anh chị ơi! Chính vào lúc tôi sắp chạm được vào hai chữ lương thiện đầy ý nghĩa của cuộc đời tôi thì một lần nữa, Chúa đã thử thách lòng kiên nhẫn của tôi bằng việc lấy đi của tôi mọi niềm hy vọng. Người con gái trong 3 năm liền tháng nào cũng viết thư cho tôi, năm nào cứ vào dịp Giáng sinh cũng lặn lội vào trại giam thăm tôi đã không còn đến với tôi nữa.

Cô gái đã tìm được bố mẹ và đã ra nước ngoài đoàn tụ cùng gia đình. Những bức thư viết gửi cho tôi vẫn còn đó, nhưng cô gái thì đã đi xa. Thi thoảng ở nước ngoài, cô gái vẫn viết thư về động viên tôi. Nhưng tôi không bao giờ mở những bức thư gửi về từ phương trời xa xôi cách biệt ấy nữa. Tôi xếp chúng lại im lặng trong đáy tay nải của một tù nhân tứ cố vô thân. Từ đó, tôi sống lặng im như chiếc bóng. Không ai còn nhận ra tôi, một phạm nhân khét tiếng một thời…
(St)

Ý kiến của bạn:

0 comments: